Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

ĐỒNG ĐỨC BỐN - THƠ VÀ NHỮNG NẺO KIẾM TÌM

1. 1.1. Nếu thơ là tiếng nói thân phận thì thơ Đồng Đức Bốn, trước tiên, là phát ngôn cho thân phận của một kẻ tự thấy mình:
Đời tôi chỉ những xót xa đi tìm
(Đời Tôi)
Câu thơ trên, cố nhiên ứng với chân dung thơ Đồng Đức Bốn. Nhưng chân dung ấy hoàn toàn không cá biệt. Cơ bản hơn, nó có ý nghĩa như một đại diện.
Thực vậy, thế hệ  những nhà thơ trước Đồng Đức Bốn không bị vướng mắc vào sự tìm kiếm những giá trị và tín niệm. Tất cả đều đã hoàn tất . Nhà thơ nối mình  với cộng đồng bằng những tín niệm thiêng liêng và phổ biến. Câu thơ của họ tự thân đã lấp lánh ánh sáng của mặt trời chân lý.

THƠ HIỆN ĐẠI: CHIÊU THỨC VÀ NỘI LỰC

Thơ hiện đại đang trong nỗ lực tạo một diện mạo mới. Những tìm kiếm kỹ thuật dường như là mẫu số chung cho nhiều nhà thơ. Rất nhiều những thử nghiệm để thăm dò những chiều kích mới của ngôn ngữ, hướng tới những cách tạo nghĩa mới, những cách xây dựng hình ảnh thơ mới...Điều này làm ta hình dung đến quang cảnh của một phòng thí nghiệm ngổn ngang những vật liệu, những thành phẩm dang dở và... không ít những tai nạn được ngộ nhận là thơ, hoặc ít nhất là nhân danh thơ.
Tìm kiếm thì nhiều. Sự nhiệt thành và chân thành là không thể nghi ngờ. Nhưng vẫn thấy thiếu một điểm tựa đích thực cho tất cả những thể nghiệm ấy.
Theo tôi, đánh giá một nhà thơ, cũng như đánh giá một nhân vật võ lâm trong truyện chưởng của Kim Dung, có thể dựa vào hai tiêu chí:
         -chiêu thức
         -nội lực
Chiêu thức có thể biến ảo nhưng nội lực tầm thường thì khó mà xưng danh trong võ lâm cho được. Nội lực hùng hậu thì như anh chàng Hư Trúc chỉ dùng những quyền pháp đơn giản của Thiếu Lâm cũng có thể đấu ngang ngửa với Cưu Ma Trí - đệ nhất cao thủ võ lâm khi ấy. Hoàn toàn chỉ biết đến chiêu thức hay chỉ thuần dựa vào nội lực thì hiếm nhưng những kiểu như Đoàn Dự thì nhiều không kể xiết.

BÀN THÊM VỀ VỊ THẾ CỦA NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Một tiêu chí quan trọng để nhận diện về tính chất của một giai đoạn văn học là vị thế xã hội của nhà văn: nó tiết lộ những tương tác phức tạp của văn học với các nhân tố khác như: bảng thang giá trị trong xã hội, những định hướng từ chính trị... Một cái nhìn lướt qua mang tính đối chiếu giữa vị thế xã hội của nhà văn giai đoạn 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay có thể giúp ta nhận thức rõ hơn về ý nghĩa văn học sử của khái niệm công cụ này.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 4. Diễn ngôn giai cấp về tính dục

4.1 Sự phát triển của kinh tế thị trường, bao giờ cũng thế, đi kèm với nó là khoảng cách giàu nghèo được gia tăng một cách nhanh chóng. Đấy cũng là diện mạo của xã hội Việt Nam từ cuối những năm 1920 đến những năm 1940. Thêm vào đó là những khủng hoảng kinh tế và bóng đen của chiến tranh thế giới thứ hai. Hà Nội và những thành phố lớn cùng lúc phơi bày hai bộ mặt hoàn toàn trái ngược: một cuộc sống xa hoa, phù phiếm đến thác loạn của những ông chủ bà chủ và một cuộc sống khác của những cư dân nơi vỉa hè (những người buôn thúng bán mẹt, thằng bé đánh giầy, anh xe...), những kẻ nhà quê trong thân phận của những con sen, thằng ở. Đấy là những kẻ mà sinh kế của họ chỉ có hai ngả rẽ để lựa chọn: “Đàn bà sẽ đi đến dục tình. Đàn ông sẽ đi đến hình phạt”[1]. Nạn mại dâm mà bệnh hoa liễu là một hệ quả trở thành một vấn nạn nhức nhối. Ngày 2 tháng 12 năm 1933 Toàn quyền Đông Dương đã phải ra một Nghị định thành lập Hội đồng bài trừ bệnh hoa liễu. Chính giới xã hội học thực dân phải thừa nhận thực trạng: “thành phố Hà Nội thực tế bị mắc vào hệ thống ổ vi trùng hoa liễu rất mạnh, được các cơ quan chính quyền đồng tình để nguyên”[2]. Năm 1937, khi viết phóng sự Lục sì, Vũ Trọng Phụng cho biết con số gái mại dâm ở Hà Nội, theo cung cấp của sở Liêm Phóng, là 5.000 người trên tổng số 18 vạn dân, “thế có nghĩa là cứ ba mươi lăm người lương thiện lại có một người thường nhật sinh sống bằng sự gieo rắc vi trùng hoa liễu”[3]. Đến năm 1938, theo một số báo cáo chính thức “ở ngoại ô Hà Nội (với 300.000 dân) có từ 1500 đến 2000 phụ nữ làm nghề mại dâm”[4]. Nhưng dẫn liệu trên cho ta thấy một sự thật: nền kinh tế thị trường đã biến quan hệ tình dục vốn rất riêng tư trở thành một hàng hóa để mua bán. Và vì thế tình dục gắn liền với tiền bạc, với những người có khả năng trả tiền cho nhu cầu tình dục được buông thả trong một mối trường đậm chất phi truyền thống: đô thị. Ở một đất nước mà cuối thế kỉ trước, E. Nordemann còn nhận thấy:

“nghề mại dâm là hết sức hạn chế (...). Đúng thế, còn có những kĩ nữ, một loại gái giang hồ thành thạo trong tất cả nghệ thuật giải trí, nhưng họ cũng vậy, với một số lượng rất hạn chế. Vả chăng, sự giao tiếp của họ ít liên quan đến việc mại dâm, trong ý nghĩa thú tính vô liêm sỉ mà người ta thường kết hợp với từ này”[5]

DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 3. Từ diễn ngôn về cái tôi cá nhân đến thiên tính tự nhiên trong tính dục

3.1 Diễn ngôn về cái tôi cá nhân là đặc điểm nổi bật trong trong đời sống xã hội Việt Nam nửa đấu thế kỉ XX. Trọng tự do cá nhân được công khai ngay tại điều thứ 7 trong tôn chỉ sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn[1]. Những diễn ngôn về cái tôi cá nhân, như miêu tả của Đào Duy Anh, đến từ nhiều nguồn và đều tập trung vào tiêu điểm: hướng tới là sự đả phá luân lí của  gia đình phong kiến xem đó như là nơi giam hãm của những cá nhân:
“Lại thêm học thuật, luân lí, phong tục cũng lần lần chịu ảnh hưởng của Âu châu mà đổi mới, những thanh niên nam nữ đối với văn hóa cũ có thái độ hoài nghi và đối với những điều chuyên chế của gia trưởng sinh lòng phản đối, nhân thế mà những vấn đề cá nhân tư cách, tử nữ quyền lợi, tự do luyến ái, tự do kết hôn, nam nữ bình đẳng tự do phát sinh (...) Các tiểu thuyết xuất bản gần đây, một số nhiều cũng lấy vấn đề gia đình làm đề mục. Cứ hiện trạng ấy thì ta thấy rằng chế độ gia đình nước ta cần phải được cải tạo mới thích hợp với thời đại mới này.[2]”

DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 2. Sự quyến rũ nhục dục - từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về tính dục.

2.1 Tình dục và sự cám dỗ sắc dục xuất hiện ngay từ buổi đầu phôi thai của nền văn học mới với nhiều sắc thái cũng như những biến đổi phức tạp.
Đến thời điểm hiện tại, tác phẩm đầu tiên mà chúng ta biết được có đề cập trực diện đến vấn đề tình dục là Truyện nàng Hà Hương của Lê Hoằng Mưu, khởi đăng trên báo Nông cổ mín đàm (số 19, 20-7-1912)[1]. Do chỗ tác phẩm này chưa được công bố rộng rãi nên trước khi đi vào phân tích chúng tôi xin được tóm tắt những nét chính như sau: ở Bến Tre, có vợ chồng Trần Quế là người chân thật, chăm chỉ làm ăn nên gây dựng được một gia sản lớn. Cạnh nhà Trần Quế, có bà đỡ (bà mụ) tên Lưu. Bà Lưu có con gái là Liên lấy chồng là Thân. Vợ Trần Quế và Liên đều có thai và sinh cùng ngày, đều là con gái. Bà Lưu muốn cháu mình sung sướng nên đã đánh tráo cháu mình với con của Trần Quế. Cô con gái giả này tên là Hà Hương sống với Trần Quế rất sung sướng. Cô con gái thật tên là Nguyệt Ba sống ở nhà con gái bà Lưu trong cảnh lam lũ. Lớn lên Hà Hương vì được cưng chiều nên chỉ lo ăn diện.

DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) 1. Chủ thể của diễn ngôn tính dục trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến 1945

Trong văn học Việt Nam truyền thống, diễn ngôn tính dục được nắm giữ bởi hai chủ thể chính: người bình dân và nhà nho. Quan niệm về tính dục trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến 1945 được nắm giữ bởi một chủ thể mới. Theo chúng tôi, chủ thể này là người thị dân mà nòng cốt là tầng lớp trung lưu - sản phẩm của đô thị hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ.