1. Năm
1867, trong Tế cấp bát điều (Tám điều
cần làm gấp), Nguyễn Trường Tộ đặt vấn đề: “ấn hành một tờ nhật báo, đăng tải
các chiếu, chỉ, sớ, dụ, những việc làm của các bậc có tiếng tăm, những công vụ
của quốc gia hiện thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước”[1]. Một
đề xuất thể hiện viễn kiến của một nhà cách tân. Tuy nhiên, như thực tế lịch sử
cho thấy, ở vào thời điểm ấy, không có cơ hội để một ý tưởng như thế trở thành
hiện thực. Lý do: tờ báo, sự hiện diện của nó, là thuộc về một cấu trúc xã hội
và văn hóa khác hẳn với tình hình thực tiễn của Việt Nam lúc bấy giờ. Mặc dù
luôn có quan hệ mật thiết với những vấn đề kỹ thuật và công nghệ nhưng sự hình thành và phát triển của báo
chí là một hiện tượng, trước tiên và gốc rễ nhất, được nhận diện trong mối quan
hệ chiều sâu với những yếu tố về văn hóa, cơ cấu chính trị. Ở phương Tây,
báo chí hiện đại (từ 1787, đã được Burk mệnh danh là quyền lực thứ tư) hình thành, phát triển trên cơ sở của một chế độ
dân chủ mà biểu hiện cụ thể là sự quan tâm ngày càng tăng của quần chúng nhân
dân với những vấn đề về chính trị, xã hội. Điều này giải thích vì sao kỹ thuật
in ấn, trên cơ sở sự phồn thịnh của các đô thị, đã phát triển rất mạnh từ thời
Minh Thanh nhưng sự ra đời và hưng thịnh của hoạt động báo chí của Trung Quốc chỉ
hình thành vào cuối thế kỷ XIX, trên cơ sở quan hệ mật thiết với các tô giới tại
Thượng Hải - nơi mà tự do ngôn luận cởi mở hơn hẳn so với địa bàn mà chính phủ
Trung Quốc quản lý. Thực tế lịch sử cho thấy, sự hình thành của báo chí ở các nước phương Đông nói chung và Việt Nam
nói riêng luôn có những quan hệ mật thiết với những ảnh hưởng từ phương Tây. Cụ
thể hơn, ở các quốc gia nói trên, sự xuất hiện của báo chí là một chỉ số cho thấy
sự chuyển dịch về cơ cấu chính trị và xã hội theo hướng phương Tây hóa mà một
trong những đặc điểm nổi bật của nó là tinh thần dân chủ. Vậy nên, sự hiện diện
của các hình thức thông tin kiểu như Quảng Văn Đình (thời Lê Thánh Tông) và Quảng
Minh Đình (thời Gia Long) với chức năng: “niêm yết những phép tắc trị dân”,
“dán những huấn lệnh của nhà vua”[2] chưa
thể được xem là báo chí theo nghĩa đích thực bởi đó thuần túy chỉ là sự thông đạt
từ bên trên trong một xã hội tuân thủ trật tự và tôn ti của Nho giáo.
Cần phải khẳng định một điều: người Pháp đến
Việt Nam cố nhiên không phải để thiết lập một chế độ dân chủ. Tuy nhiên, ở giai
đoạn đầu tiên của quá trình thực dân, với ý đồ xóa bỏ cơ tầng văn hóa bản địa để
cấy vào đó một mô hình văn hóa được sao chép từ chính quốc (mà Sài Gòn là một thử
nghiệm) đã đưa lại một sự đồng dạng nhất định, chí ít là trên cơ sở của những
thiết chế, giữa hai nền văn hóa. Ở giai đoạn tiếp theo, khi những văn hóa bản địa
được tôn trọng (nhằm lợi dụng từ trong truyền thống những nhân tố hữu ích cho
việc vận hành một cách ổn định bộ máy cai trị) thì với những biến đổi về kinh tế
sau hai cuộc khai thác thuộc địa đã kéo theo nó những thay đổi căn bản trong cấu
trúc xã hội. Một minh chứng tiêu biểu: tại thời điểm này, người ta buộc phải
ghi nhận sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ở thành thị với một số lượng và
vai trò văn hóa ngày một chiếm một tỷ lệ quan trọng. Đặc điểm của tầng lớp này
đã được Đào Duy Anh khái quát một cách ngắn gọn: “điều kiện sinh hoạt vật chất
của họ dồi dào chừng nào thì lòng hâm mộ của họ đối với văn hóa Tây phương càng
nồng nàn chừng ấy”[3]. Lẽ tự nhiên, tầng lớp dân
cư này, trong bộ gen của mình, có sự tương thích đặc biệt với một môi trường sống
mà ở đó tính chất dân chủ ít nhiều đã được tôn trọng và bắt đầu bén rễ. Cũng
chính trong môi trường như thế, chỉ trong môi trường như thế (với sự trợ giúp đặc
biệt của chữ quốc ngữ, cho dù vẫn tồn tại một dòng báo chí bằng chữ Hán và đặc
biệt là Pháp ngữ) mà báo chí xuất hiện. Nói chính xác hơn thì đây là một quan hệ
tương hỗ: báo chí thúc đẩy tư tưởng dân chủ phát triển và ngược lại những yếu tố
dân chủ trong xã hội đã khiến báo chí phát triển nhanh chóng và có một vị trí đặc
biệt trong đời sống tinh thần của xã hội.