1. Tên
gọi Hà Nội, sớm nhất là từ thời Minh Mạng (1831). Nhưng Hà Nội trong văn học
Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX lại tồn tại với tư cách là nhượng địa của Pháp theo
kí kết của vua Đồng Khánh với người Pháp (1888) và muộn hơn một chút, năm 1902,
với tư cách là thủ đô của toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp (French Indochina) do Toàn
quyền Đông Dương phê duyệt. Ở thời điểm ấy, Hà Nội trong vị thế mới này là đô thị hiện đại đối lập với Hà Nội (thời
Minh Mạng), Thăng Long (thời Gia Long), Bắc Thành (thời Quang Trung) hay trước
đó Đông Kinh (thời Lê Lợi), Đông Đô (thời Hồ Quý Lý), Thăng Long (thời Lý)[1] – những tên gọi
mang trong mình những thăng trầm lịch sử nhưng, dù khác biệt đến
đâu, vẫn thuộc về loại hình đô thị phương
Đông truyền thống. Có một lưu ý khá thú vị: trước thời Pháp thuộc, bất chấp
việc
Hà Nội đã trở thành
tên gọi chính thức thì trong văn học nó vẫn được nhắc đến bằng cái tên Thăng
Long[2],
hoặc một danh xưng khác (ít phổ biến hơn): Tràng An. Vậy nên, vào thời điểm Hà
Nội trở thành một địa danh trong văn học mới (thay thế cho Thăng Long trong văn
học truyền thống) người ta có thể nói đến ở đó một khúc ngoặt thời đại mang đậm
dấu ấn của một xã hội thuộc địa mà đặc điểm nổi bật là phương Tây hoá, hiện đại hoá.
Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017
INTERNET VÀ VĂN HỌC ĐẠI CHÚNG – TỪ GIẢI TRUNG TÂM ĐẾN GIẢI NHỊ PHÂN VIẾT/ NÓI (TRƯỜNG HỢP CÓ MỘT PHỐ VỪA ĐI QUA PHỐ CỦA ĐINH VŨ HOÀNG NGUYÊN)
INTERNET VÀ
VĂN HỌC ĐẠI CHÚNG – TỪ
GIẢI TRUNG TÂM ĐẾN GIẢI NHỊ PHÂN VIẾT/ NÓI
(TRƯỜNG HỢP CÓ MỘT PHỐ VỪA ĐI QUA PHỐ
CỦA ĐINH VŨ
HOÀNG NGUYÊN)
1. Xuất bản năm 2013, Có một phố vừa đi qua phố (tập hợp những
entry trên blog của Đinh Vũ Hoàng Nguyên) nhanh chóng trở thành một hiện tượng
của đời sống văn học. Trên bìa bốn của cuốn sách có lời giới thiệu đáng chú ý của
Đỗ Thu Hà:
“Đinh
Vũ Hoàng Nguyên mất rạng sáng 23 tháng Ba năm 2012, đúng sinh nhật lần thứ 38.
Chàng nhà thơ này chưa có thơ xuất bản, nhà văn này không có truyện ngắn đăng
báo, hoạ sĩ này chưa có triển lãm cá nhân.
Nhưng tất cả những ai từng biết
Nguyên qua blog Lão Thầy Bói Già, qua Facebook với nick Đinh Vũ Hoàng Nguyên
đều đã kịp chiêm ngưỡng những bức hoạ tràn trề màu xanh hi vọng của Nguyên, đã
kịp say sưa theo dõi những truyện ngắn Nguyên post lên mạng làm nhiều kỳ, lôi
cuốn, hồi hộp, cười đau cả ruột mà nước mắt ứa ra lặng lẽ”(1).
Bài giới thiệu mở đầu cuốn sách của nhà văn Lê Minh Hà
cũng dành cho cây bút này rất nhiều thiện cảm từ góc độ người đọc và người cầm
bút:
“Đinh Vũ Hoàng Nguyên chỉ quăng một stutus thôi là kéo
giật được bao nhiều người nhào vào đọc, rồi bình. Cứ nghĩ đến chuyện mình mang
hết góc nọ góc kia của cõi lòng của miền tâm cảm bày ra trên mạng mà thiên hạ
coi như nước ao bèo không thèm ném cho hòn sỏi, đọc thống kê lượng người vào
thăm nhà Nguyên, khéo buồn khéo tủi khéo ghen.
Quả trên mạng chưa thấy có ai có
được những status hài hước thế. Đây không hẳn là cái duyên, giỏi nhìn ngó và
biết kể, mà là hẳn một kiểu tư duy, không thể nào bắt chước được.
[…] Một chuyện tình là một truyện ngắn hoàn hảo trong nghĩa này. Phảng
phất như Nam Cao, trong cái dịu dàng tít tắp đằng sau câu chữ. […] Ở những
entry khác, mà có lúc Đinh Vũ Hoàng Nguyên cũng chú trước là truyện ngắn, tưởng
chừng như tác giả Số đỏ có truyền
nhân”(2).
Những bình luận trên có thể gây
tranh luận nhưng thiện cảm của người đọc dành cho Đinh Vũ Hoàng Nguyên và tác
phẩm của anh là có thật. Tra cứu trên Google, những nhận xét phản hồi của người
đọc về Có một phố vừa đi qua phố dao
động từ 3 sao đến 5 sao. Rất nhanh, trên Internet đã có bản PDF và Ebook cho
tác phẩm này (một dấu hiệu cho sự quan tâm của độc giả). Quan trọng hơn cả,
cùng với Cửa hiệu giặt là của Đỗ Bích
Thuý (một nữ nhà văn chuyên nghiệp đã được cộng đồng sáng tác thừa nhận), Có một phố vừa đi qua phố của Đinh Vũ
Hoàng Nguyên đã được trao giải thưởng Văn học nghệ thuật Thủ đô năm 2014 của
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, một
trong 10 thành viên chấm giải, nhận xét: “Cuốn sách cho thấy một gương mặt
tương đối đặc biệt trong giới viết lách hiện nay: một người không định làm văn
chương, nhưng đã đạt đến giá trị văn chương”(3).
Tóm lại, với hình thức cuốn sách,
nhà xuất bản, giải thưởng của một tổ chức văn học chính thống, những bình luận
của giới sáng tác và phê bình đã khiến những đăng tải trên internet của một
người viết (dưới hình thức blog) đã gia nhập vào không gian văn học chính thống
của xã hội, được bình luận và đánh giá như một hiện tượng văn học. Bài viết này
của chúng tôi sẽ tập trung lí giải nguyên nhân khiến cho Có một phố vừa đi qua phố có được độc giả của mình cũng như vị trí
của tác phẩm này đồng thời đưa ra những thảo luận xung quanh những đặc điểm của
văn học đại chúng nói chung trong đời sống văn học đương đại với sự hiện diện
của Internet.
Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2015
DẪN NHẬP LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN CỦA M.FOUCAULT VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Có một thực tế là: dù có công trình nghiên cứu về
văn học Pháp đương đại được viết vào những năm 1960 thì Foucault vẫn chưa bao
giờ là một nhà nghiên cứu văn học theo nghĩa chặt chẽ của từ này. Tuy nhiên, và
điều này còn thú vị hơn, những ảnh hưởng của Foucault đến nghiên cứu văn học là
rất sâu đậm: cả trên phương diện những đề tài cụ thể (tính dục, cái tôi, vấn đề
nữ quyền...) cũng như trên phương diện lí thuyết (vấn đề lịch sử văn học, vấn đề
tác giả, vai trò của phê bình văn học, giới tính trong sáng tác và tiếp nhận
văn học, tính văn học (literariness).
Tất cả những ảnh hưởng nhiều mặt, đa dạng này của Foucault với nghiên cứu văn học,
về cơ bản, đều có thể được cắt nghĩa từ việc nhìn nhận văn học như một diễn
ngôn. Và đấy sẽ là mục tiêu mà tiểu luận của chúng tôi hướng tới giới thiệu và
thảo luận.
Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015
PHƯƠNG TÂY VÀ SỰ HÌNH THÀNH DIỄN NGÔN VỀ BẢN SẮC VIỆT NAM (trường hợp Phan Bội Châu từ 1905 – 1908)
1. Diễn
ngôn thực dân và diễn ngôn bản sắc dân tộc
1.1 Thực dân hiểu
theo nghĩa là sự xâm chiếm và kiểm soát đất đai và tài sản của những cộng đồng
và quốc gia khác là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên trong lịch sử nhân
loại. Từ đây xuất hiện câu hỏi: đâu là sự khác nhau giữa chủ nghĩa thực dân của
phương Tây với những hình thức thực dân trước đó?
Tư duy Mac-xit
đặt trong tâm nhận thức về thực dân trên phương diện kinh tế. Theo đó, sự khác
biệt giữa phương Tây và các nước thuộc địa chủ yếu là khác biệt giữa những hình
thái sản xuất tư bản chủ nghĩa với những xã hội có những hình thái sản xuất
khác. Từ những gợi ý lí thuyết về quyền lực/ tri thức (diễn ngôn) của Foucault,
E. Said đề xuất một hướng tiếp cận mới để nhận thức về quyền lực thực dân.
Trong những phân tích của học giả này, quyền lực của thực dân được hiểu mềm dẻo
hơn (nhưng cũng để lại những ám ảnh lâu dài hơn): không phải là sức mạnh đàn
áp, thống trị mà là sức mạnh được thực hiện nhờ vào việc kiến tạo một diễn ngôn
(tri thức) về phương Đông. Said cho rằng những miêu tả (representations) về
phương Đông trong các văn bản phương tây đã kiến tạo một sự lưỡng phân giữa châu
Âu và Kẻ Khác (Others) trong đó châu Âu giữ vai trò trung tâm với những ưu thế
vượt trội. Theo đó: phương Tây là lí trí, văn minh, năng động, nam tính đối lập
với một phương Đông: phi lí trí, lạc hậu, tính tại, nữ tính...
Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015
MISS SÀI GÒN VÀ DIỄN NGÔN ĐÔNG Á
Thursday, March 25, 2010 4:18:50 PM
1. Chắc không phải là ngẫu nhiên khi Lee Dong Soon lại chọn
tên bài thơ Miss Sài Gòn làm nhan đề chung cho cả tập thơ – một nhan đề
mà tự nó đã cho thấy một sự đan trộn văn hóa, đan trộn không – thời gian. “Miss
Sài Gòn” là cách gọi của một người lính Hàn Quốc dành cho người phụ nữ Việt Nam
mà anh ta đã gắn bó trong thời gian sống trong quân ngũ. Người đàn ông Hàn Quốc
trong bài thơ thì đã bỏ đi và chưa biết đến ngày nào quay lại nhưng tác giả của
tập thơ – một đồng bào của người lính Hàn Quốc năm xưa - thì đã đến Việt Nam.
Với cá nhân ông thì đây là lần đầu tiên. Nhưng với tư cách của một người Hàn
Quốc thì đó là một sự trở lại.
NHÀ VĂN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM- NHỮNG GIỚI HẠN VÀ SỨ MỆNH (suy nghĩ từ những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp)
Nhà
văn - anh ta là ai? Anh ta và những tác phẩm của mình đảm nhận những sứ mệnh
nào? đâu là những giới hạn? Đấy là những câu hỏi mà người cầm bút không thể né
tránh. Tuy nhiên, không chỉ có người cầm bút tham gia vào câu trả lời này. Có
những câu trả lời được đề xuất từ phía đại chúng, lại có những câu trả lời đến
từ phía những nhà đạo đức, những nhà chính trị. Có những câu trả lời đến từ
những chuẩn mực truyền thống, lại có những câu trả lời đến từ những áp lực của
hiện tại và tương lai... Tất cả những câu trả lời này, trong đích hướng của
chúng, đều có tham vọng thay nhà văn đưa ra câu trả lời cho chính
anh ta. Chính vì thế, nhà văn, để đưa ra câu trả lời của mình, dù muốn
hay không, cũng phải tiến hành một sự đính chính, khước từ, đối thoại với những
câu trả lời dội đến anh ta từ nhiều hướng. Trên thực tế thì đây là điều bất khả
đối với phần lớn những người cầm bút ở một thời đại cụ thể. Họ, hoặc là thoả
mãn với những câu trả lời có sẵn, hoặc bị “méo”, bị lạc giọng trong tiếng ồn.
Điều này giải thích vì sao chỉ ở những nhà văn hàng đầu những câu hỏi trên mới
trở thành sự cật vấn không khoan nhượng, trở thành một nội dung, thậm chí là nội
dung quan trọng nhất trong các tác phẩm
của họ. Bằng cách trả lời những câu hỏi này họ để lại trong tác phẩm chân dung
tinh thần của mình, cái nhìn phản tỉnh về chính mình. Một cách tự nhiên, đây sẽ
là một tiêu chí để những người làm văn học sử nhận diện về đặc điểm của một
thời kỳ văn học nhất định.
ĐỒNG ĐỨC BỐN - THƠ VÀ NHỮNG NẺO KIẾM TÌM
1. 1.1. Nếu thơ là tiếng nói thân phận
thì thơ Đồng Đức Bốn, trước tiên, là phát ngôn cho thân phận của một kẻ tự thấy
mình:
Đời tôi chỉ những
xót xa đi tìm
(Đời
Tôi)
Câu thơ trên, cố nhiên ứng với chân dung
thơ Đồng Đức Bốn. Nhưng chân dung ấy hoàn toàn không cá biệt. Cơ bản hơn, nó có
ý nghĩa như một đại diện.
Thực vậy, thế hệ những nhà thơ trước Đồng Đức Bốn không bị
vướng mắc vào sự tìm kiếm những giá trị và tín niệm. Tất cả đều đã hoàn tất .
Nhà thơ nối mình với cộng đồng bằng
những tín niệm thiêng liêng và phổ biến. Câu thơ của họ tự thân đã lấp lánh ánh
sáng của mặt trời chân lý.
THƠ HIỆN ĐẠI: CHIÊU THỨC VÀ NỘI LỰC
Thơ hiện đại đang trong nỗ lực tạo một diện mạo mới. Những
tìm kiếm kỹ thuật dường như là mẫu số chung cho nhiều nhà thơ. Rất nhiều những
thử nghiệm để thăm dò những chiều kích mới của ngôn ngữ, hướng tới những cách tạo
nghĩa mới, những cách xây dựng hình ảnh thơ mới...Điều này làm ta hình dung đến
quang cảnh của một phòng thí nghiệm ngổn ngang những vật liệu, những thành phẩm
dang dở và... không ít những tai nạn được ngộ nhận là thơ, hoặc ít nhất là nhân
danh thơ.
Tìm kiếm thì nhiều. Sự nhiệt thành và chân thành là không thể
nghi ngờ. Nhưng vẫn thấy thiếu một điểm tựa đích thực cho tất cả những thể nghiệm
ấy.
Theo tôi, đánh giá một nhà thơ, cũng như đánh giá một nhân vật
võ lâm trong truyện chưởng của Kim Dung, có thể dựa vào hai tiêu chí:
-chiêu thức
-nội lực
Chiêu thức có thể biến ảo nhưng nội lực tầm thường thì khó mà
xưng danh trong võ lâm cho được. Nội lực hùng hậu thì như anh chàng Hư Trúc chỉ
dùng những quyền pháp đơn giản của Thiếu Lâm cũng có thể đấu ngang ngửa với Cưu
Ma Trí - đệ nhất cao thủ võ lâm khi ấy. Hoàn toàn chỉ biết đến chiêu thức hay
chỉ thuần dựa vào nội lực thì hiếm nhưng những kiểu như Đoàn Dự thì nhiều không
kể xiết.
BÀN THÊM VỀ VỊ THẾ CỦA NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Một tiêu chí quan trọng để nhận diện
về tính chất của một giai đoạn văn học là vị thế xã hội của nhà văn: nó tiết lộ
những tương tác phức tạp của văn học với các nhân tố khác như: bảng thang giá
trị trong xã hội, những định hướng từ chính trị... Một cái nhìn lướt qua mang
tính đối chiếu giữa vị thế xã hội của nhà văn giai đoạn 1945 - 1975 và từ sau
1975 đến nay có thể giúp ta nhận thức rõ hơn về ý nghĩa văn học sử của khái
niệm công cụ này.
Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015
DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 4. Diễn ngôn giai cấp về tính dục
4.1 Sự phát
triển của kinh tế thị trường, bao giờ cũng thế, đi kèm với nó là khoảng cách
giàu nghèo được gia tăng một cách nhanh chóng. Đấy cũng là diện mạo của xã hội
Việt Nam từ cuối những năm 1920 đến những năm 1940. Thêm vào đó là những khủng
hoảng kinh tế và bóng đen của chiến tranh thế giới thứ hai. Hà Nội và những
thành phố lớn cùng lúc phơi bày hai bộ mặt hoàn toàn trái ngược: một cuộc sống
xa hoa, phù phiếm đến thác loạn của những ông chủ bà chủ và một cuộc sống khác
của những cư dân nơi vỉa hè (những người buôn thúng bán mẹt, thằng bé đánh giầy,
anh xe...), những kẻ nhà quê trong thân phận của những con sen, thằng ở. Đấy là
những kẻ mà sinh kế của họ chỉ có hai ngả rẽ để lựa chọn: “Đàn bà sẽ đi đến dục
tình. Đàn ông sẽ đi đến hình phạt”[1]. Nạn
mại dâm mà bệnh hoa liễu là một hệ quả trở thành một vấn nạn nhức nhối. Ngày 2
tháng 12 năm 1933 Toàn quyền Đông Dương đã phải ra một Nghị định thành lập Hội đồng bài trừ bệnh hoa liễu. Chính giới
xã hội học thực dân phải thừa nhận thực trạng: “thành phố Hà Nội thực tế bị mắc
vào hệ thống ổ vi trùng hoa liễu rất mạnh, được các cơ quan chính quyền đồng
tình để nguyên”[2]. Năm 1937, khi viết phóng
sự Lục sì, Vũ Trọng Phụng cho biết
con số gái mại dâm ở Hà Nội, theo cung cấp của sở Liêm Phóng, là 5.000 người
trên tổng số 18 vạn dân, “thế có nghĩa là cứ ba mươi lăm người lương thiện lại
có một người thường nhật sinh sống bằng sự gieo rắc vi trùng hoa liễu”[3]. Đến
năm 1938, theo một số báo cáo chính thức “ở ngoại ô Hà Nội (với 300.000 dân) có
từ 1500 đến 2000 phụ nữ làm nghề mại dâm”[4].
Nhưng dẫn liệu trên cho ta thấy một sự thật: nền kinh tế thị trường đã biến
quan hệ tình dục vốn rất riêng tư trở thành một hàng hóa để mua bán. Và vì thế tình dục gắn liền với tiền bạc, với những
người có khả năng trả tiền cho nhu cầu tình dục được buông thả trong một mối
trường đậm chất phi truyền thống: đô thị. Ở một đất nước mà cuối thế kỉ trước,
E. Nordemann còn nhận thấy:
“nghề
mại dâm là hết sức hạn chế (...). Đúng thế, còn có những kĩ nữ, một loại gái
giang hồ thành thạo trong tất cả nghệ thuật giải trí, nhưng họ cũng vậy, với một
số lượng rất hạn chế. Vả chăng, sự giao tiếp của họ ít liên quan đến việc mại
dâm, trong ý nghĩa thú tính vô liêm sỉ mà người ta thường kết hợp với từ này”[5]
DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 3. Từ diễn ngôn về cái tôi cá nhân đến thiên tính tự nhiên trong tính dục
3.1 Diễn ngôn về
cái tôi cá nhân là đặc điểm nổi bật trong trong đời sống xã hội Việt Nam nửa đấu
thế kỉ XX. Trọng tự do cá nhân được công khai ngay tại điều thứ 7 trong tôn chỉ
sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn[1]. Những
diễn ngôn về cái tôi cá nhân, như miêu tả của Đào Duy Anh, đến từ nhiều nguồn và
đều tập trung vào tiêu điểm: hướng tới là sự đả phá luân lí của gia đình phong kiến xem đó như là nơi giam hãm
của những cá nhân:
“Lại
thêm học thuật, luân lí, phong tục cũng lần lần chịu ảnh hưởng của Âu châu mà đổi
mới, những thanh niên nam nữ đối với văn hóa cũ có thái độ hoài nghi và đối với
những điều chuyên chế của gia trưởng sinh lòng phản đối, nhân thế mà những vấn
đề cá nhân tư cách, tử nữ quyền lợi, tự do luyến ái, tự do kết hôn, nam nữ bình
đẳng tự do phát sinh (...) Các tiểu thuyết xuất bản gần đây, một số nhiều cũng
lấy vấn đề gia đình làm đề mục. Cứ hiện trạng ấy thì ta thấy rằng chế độ gia
đình nước ta cần phải được cải tạo mới thích hợp với thời đại mới này.[2]”
DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - 2. Sự quyến rũ nhục dục - từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về tính dục.
2.1 Tình dục
và sự cám dỗ sắc dục xuất hiện ngay từ buổi đầu phôi thai của nền văn học mới với
nhiều sắc thái cũng như những biến đổi phức tạp.
Đến thời điểm hiện tại,
tác phẩm đầu tiên mà chúng ta biết được có đề cập trực diện đến vấn đề tình dục
là Truyện nàng Hà Hương của Lê Hoằng
Mưu, khởi đăng trên báo Nông cổ mín đàm
(số 19, 20-7-1912)[1]. Do chỗ tác phẩm này chưa
được công bố rộng rãi nên trước khi đi vào phân tích chúng tôi xin được tóm tắt
những nét chính như sau: ở Bến Tre, có vợ chồng Trần Quế là người chân thật,
chăm chỉ làm ăn nên gây dựng được một gia sản lớn. Cạnh nhà Trần Quế, có bà đỡ
(bà mụ) tên Lưu. Bà Lưu có con gái là Liên lấy chồng là Thân. Vợ Trần Quế và
Liên đều có thai và sinh cùng ngày, đều là con gái. Bà Lưu muốn cháu mình sung
sướng nên đã đánh tráo cháu mình với con của Trần Quế. Cô con gái giả này tên
là Hà Hương sống với Trần Quế rất sung sướng. Cô con gái thật tên là Nguyệt Ba
sống ở nhà con gái bà Lưu trong cảnh lam lũ. Lớn lên Hà Hương vì được cưng chiều
nên chỉ lo ăn diện.
DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) 1. Chủ thể của diễn ngôn tính dục trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến 1945
Trong văn học Việt Nam
truyền thống, diễn ngôn tính dục được nắm giữ bởi hai chủ thể chính: người bình
dân và nhà nho. Quan niệm về tính dục trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến
1945 được nắm giữ bởi một chủ thể mới. Theo chúng tôi, chủ thể này là người thị
dân mà nòng cốt là tầng lớp trung lưu - sản phẩm của đô thị hiện đại Việt Nam đầu
thế kỷ.
DIỄN NGÔN VỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU VIỆT NAM (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) - DẪN NHẬP
Khi các trường phái như Phê
bình mới (New Criticism) hay Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) xuất hiện người
ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựa trên
những yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất kỳ một sự tham chiếu nào
khác từ những nhân tố bên ngoài. Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của xã hội học
văn học mà một nhánh quan trọng của nó là nghiên cứu tiếp nhận cũng như sự ra đời
của các trường phái chú giải học/ thông diễn học (hermeneutics), phái tính
(gender), nữ quyền luận (feminism), chủ nghĩa lịch sử[1]
... đã cho thấy sự cần thiết phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn hơn của
những vấn đề văn hóa và xã hội. Đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn tính dục trong
văn học, như thế, nảy sinh từ sự vận động và biến đổi nói trên của thực tiễn
nghiên cứu và lý luận văn học.
CẢM QUAN THẾ GIỚI TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA PHẠM QUỲNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TIẾN TRÌNH VĂN HỌC
Nghiên cứu về tiểu thuyết Nhật Bản thế kỷ 17, Richard Lane nhận thấy một
đặc điểm: “tiểu thuyết Nhật Bản không bao giờ tự mình hoàn toàn thoát khỏi những
nhân tố của văn học trung đại”. Nguyên nhân của hiện tượng này là ở chỗ: người
đọc Nhật Bản thời kì này vì bị “cắt rời khỏi dòng chảy của văn học thế giới”
nên đã không có khả năng để nhận ra sự mâu thuẫn của những yếu tố hiện thực (những
yếu tố mang trong nó tương lai của văn học) và những yếu tố của văn học trung đại[1]. Cảm
quan về văn học thế giới trong trường hợp này là nhân tố đặc biệt quan trọng để
thúc đẩy tiến trình văn học. Đây cũng chính là điểm nhìn để chúng tôi nhận diện
về vai trò của Phạm Quỳnh: không phải là người duy nhất nhưng là đại diện tiêu
biểu nhất - với những công trình lý luận, phê bình văn học đa dạng và mang tính
hệ thống của mình - đã đem đến cho văn học giao thời Việt Nam một cảm quan về văn học thế giới[2] và vì thế có vai
trò to lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến
1945.
TỪ “TIẾU LÂM AN NAM” CỦA THỌ AN - PHẠM DUY TỐN BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT
1.
Tiếu lâm An nam (TLAN) là tập hợp của 108 truyện cười dân gian do Phạm Duy Tốn (1883
– 1924)[1] biên
soạn. Hiện nay, nhờ vào hiếu tâm của nhạc sĩ Phạm Duy (con trai út của Phạm Duy
Tốn) chúng ta được tiếp xúc với ấn bản in lần thứ ba, năm 1924 do hiệu Ích Ký,
58 Hàng Giấy Hà Nội ấn hành[2]. Mặc
dù, ở thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa tìm thấy ấn bản của lần thứ nhất nhưng
căn cứ vào ghi chú của chính Phạm Duy Tốn trong lời Tựa ở phần đầu sách: “Nhâm Tý, Mạnh đông” thì có thể đoán định một
cách khá chắc chắn vào thời điểm ra đời của cuốn sách: giữa mùa đông năm 1912.
Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015
Văn thơ Phan Bội Châu - ĐẶNG THAI MAI
Văn thơ Phan Bội Châu của Đặng Thai Mai là một công trình kinh điển về tác gia văn học sử nói chung cũng như về tác gia Phan Bội Châu nói riêng. Văn bản này xuất bản đã lâu, khó tìm để đọc. Tôi post ở đây một số luận điểm chính để sinh viên có thể tham khảo. Chữ số Ả rập trong ngoặc vuông là số trang.
VĂN THƠ PHAN BỘI
CHÂU
ĐẶNG THAI MAI
(Nhà xb Văn hóa, 1960, in lần thứ hai)
I. Sự nghiệp văn chương của Phan Sào Nam là một bộ phận
trong công tác cách mạng của nhà chí sĩ
“Thi cử chỉ là một
phương tiện để cho ‘thành danh’ và có thể ‘ăn nói với đời’. Sách đầu giường của
nhà Nho, hồi này, không phải là văn chương cử tử nữa. Phan Bội Châu đọc binh thư của Tôn, Ngô, của
Gia Cát; đọc sách chính trị trong các tập ‘tân thư’ của thời đại: Khang
Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục v.v...” [11]
- “Phan Bội Châu với một
số đồng chí bắt đầu xây móng cho hội ‘Duy Tân’.
Trong lịch sử chống thực
dân Pháp của nước ta, đây là lần đầu tiên một cuộc vận động cách mạng có một tổ
chức tương đối cẩn mật, một chương trình cụ thể.
Lập trường chính trị cố
nhiên còn hết sức mập mờ về vấn đề cơ sở giai cấp. Nhưng nhà lãnh tụ Hội Duy
Tân quả tình không phải là người còn quyến luyến với chủ nghĩa bảo hoàng, với
chủ nghĩa quân chủ theo lập trường các nhà cần vương lớp trước. [12]
- “trong chính kiến của
Phan Bội Châu, con bài Cường Để không phải là một cứu cánh; nó chỉ là một
phương tiện” [13]
- “Dân không còn nữa,
mà chủ cái gì?” (Tham khảo: Phan Bội Châu
và Phan Chu Trinh – Tôn Quang Phiệt – NXB Văn Sử Địa, 1957. [14]
- “Phan Bội Châu từ
ngày mới bắt tay vào công tác cách mạng đã có một chủ trương rõ rệt: tập hợp mọi
lực lượng, liên hiệp mọi tầng lớp nhân dân để chống Pháp. Đó là một chủ trương,
tuy Sào Nam chưa hề tuyên bố rõ rệt về lập trường chính trị dân chủ”. [21] Lưu
ý là: “tư tưởng Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, ở Trung Quốc, chỉ là tư tưởng bảo
hoàng” [21]
- “từ ngày lập Hội Việt
Nam Quang phục trở về sau thì Phan Bội Châu đi hẳn theo chủ nghĩa dân chủ tư sản.
Và từ trước đến sau, Phan Bội Châu vẫn chỉ có một chủ trương: là đánh thực dân
để cứu nước. Lập trường dân chủ của Phan có phần mập mờ” [22]
- “Trong thái độ và hoạt
động chính trị của họ Phan, cố nhiên, cũng có chỗ đáng phê bình. Có một thời
gian, Phan Bội Châu đã viết Pháp Việt đề
huề luận. Đó là một vết tư tưởng đáng tiếc trong tư tưởng chính trị của một
người lâu nay vẫn chủ trương chống Pháp triệt để” [22]
- “trong sự nghiệp
Phan Bội Châu, văn chương cũng là một hoạt động gắn chặt với đời sống chính trị
của nhà ái quốc. Sự nghiệp văn chương của Phan Bội Châu chính là một bộ phận
trong công tác cách mạng của nhà chí sĩ” [25]
Quan niệm về tả thực trong tiểu thuyết giai đoạn giao thời
Trong cấu trúc
thể loại của văn học hiện đại, tiểu thuyết có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Thật khó hình dung về một nền văn học hiện đại mà ở đó thiếu vắng những thành
tựu đỉnh cao của tiểu thuyết. Ba mươi năm đầu thế kỷ, văn học có những bước
chuyển mình quan trọng để tiến vào lộ trình hiện đại hóa. Một trong những dấu
hiệu của sự chuyển mình này là sự quan tâm đặc biệt đến tiểu thuyết.
Thời trung đại, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiểu thuyết chẳng những
không được đề cao mà trong thực tế sáng tác cũng phát triển một cách hết sức
chậm chạp, không có được những thành tựu thật sự nổi bật. Cuốn sách Từ trong di sản (xuất bản năm 1981) đã
cố gắng tập hợp những ý kiến về văn học của các bậc thức giả Việt Nam từ thế kỷ
X đến thế kỷ XX nhưng ta không tìm thấy trong đó một lời bàn quan trọng nào về
tiểu thuyết. Có thể nói, tiểu thuyết trung đại Việt Nam không có nhiều thành
tựu như thơ ca và cũng đồng thời thiếu vắng một Kim Thánh Thán của mình.
Giai đoạn giao thời cho ta chứng kiến những biến động quan trọng trong
quan niệm về tiểu thuyết. Bên cạnh những quan niệm cũ xuất hiện những quan niệm
mới đến từ Tân thư và sau này đến từ văn học Pháp. Dù không liền mạch
nhưng về cơ bản thời kỳ này một mặt bằng mới trong quan niệm đã được xác lập.
Có một thực tế là trong khi những sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam
thời kỳ này còn khá sơ giản và non nớt thì quan niệm về tiểu thuyết lại đã sớm
có những kết tinh ở một trình độ khá cao, vượt xa thực tế sáng tác đương thời.
Cho đến nay, dù đã có những công trình rất đáng ghi nhận trong việc sưu tầm,
miêu tả song có lẽ chúng ta vẫn chưa có được một sự kiểm kê và đánh giá thực sự
thỏa đáng về những thành tựu phê bình và lý luận tiểu thuyết ba mươi năm đầu
thế kỷ.[1]
Bản viết này chỉ đề cập đến quan niệm về tả thực trong tiểu thuyết thời kỳ này.
Một số vấn đề lý thuyết tiếp nhận từ hoạt động dịch thuật đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam từng bước
ra nhập nền văn học thế giới. Một trong những nguyên nhân chính đưa lại sự thay
đổi này là ảnh hưởng của văn học phương Tây, trong đó văn học Pháp giữ vai trò
chủ đạo. Chính vì thế khi tiến hành so sánh, một trong những hướng nghiên cứu
chủ yếu sẽ là đi tìm cơ chế cho hoạt động lựa chọn để tiếp nhận của văn học
Việt Nam trước ảnh hưởng của văn học Pháp. Việc tìm hiểu cơ chế tiếp nhận
này sẽ giúp chúng ta chẳng những xác định được những đặc điểm, thuộc tính nào
của văn học Pháp đã được tiếp nhận mà còn lý giải được nguyên nhân cho sự có
mặt của chúng ở Việt Nam. Trước khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra
đời, cơ chế chính để tiếp nhận văn học Pháp chính là dịch thuật. Bài viết này
hướng tới hai mục tiêu:
-Thứ nhất, phác họa đặc điểm và sơ
bộ đánh giá những ảnh hưởng của văn học phương Tây (chủ yếu là của văn học
Pháp) đối với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam.
-Thứ hai, qua đó rút ra một số thu hoạch xung quanh
vấn đề chủ thể tiếp nhận trong so sánh văn học.
CẢM QUAN HIỆN TẠI VÀ MÔ HÌNH KHÔNG – THỜI GIAN TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU GIAO THỜI
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)