Khi các trường phái như Phê
bình mới (New Criticism) hay Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) xuất hiện người
ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đề của văn học chỉ thuần túy dựa trên
những yếu tố nội tại của văn bản mà không cần đến bất kỳ một sự tham chiếu nào
khác từ những nhân tố bên ngoài. Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của xã hội học
văn học mà một nhánh quan trọng của nó là nghiên cứu tiếp nhận cũng như sự ra đời
của các trường phái chú giải học/ thông diễn học (hermeneutics), phái tính
(gender), nữ quyền luận (feminism), chủ nghĩa lịch sử[1]
... đã cho thấy sự cần thiết phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn hơn của
những vấn đề văn hóa và xã hội. Đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn tính dục trong
văn học, như thế, nảy sinh từ sự vận động và biến đổi nói trên của thực tiễn
nghiên cứu và lý luận văn học.
Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015
CẢM QUAN THẾ GIỚI TRONG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA PHẠM QUỲNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TIẾN TRÌNH VĂN HỌC
Nghiên cứu về tiểu thuyết Nhật Bản thế kỷ 17, Richard Lane nhận thấy một
đặc điểm: “tiểu thuyết Nhật Bản không bao giờ tự mình hoàn toàn thoát khỏi những
nhân tố của văn học trung đại”. Nguyên nhân của hiện tượng này là ở chỗ: người
đọc Nhật Bản thời kì này vì bị “cắt rời khỏi dòng chảy của văn học thế giới”
nên đã không có khả năng để nhận ra sự mâu thuẫn của những yếu tố hiện thực (những
yếu tố mang trong nó tương lai của văn học) và những yếu tố của văn học trung đại[1]. Cảm
quan về văn học thế giới trong trường hợp này là nhân tố đặc biệt quan trọng để
thúc đẩy tiến trình văn học. Đây cũng chính là điểm nhìn để chúng tôi nhận diện
về vai trò của Phạm Quỳnh: không phải là người duy nhất nhưng là đại diện tiêu
biểu nhất - với những công trình lý luận, phê bình văn học đa dạng và mang tính
hệ thống của mình - đã đem đến cho văn học giao thời Việt Nam một cảm quan về văn học thế giới[2] và vì thế có vai
trò to lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến
1945.
TỪ “TIẾU LÂM AN NAM” CỦA THỌ AN - PHẠM DUY TỐN BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT
1.
Tiếu lâm An nam (TLAN) là tập hợp của 108 truyện cười dân gian do Phạm Duy Tốn (1883
– 1924)[1] biên
soạn. Hiện nay, nhờ vào hiếu tâm của nhạc sĩ Phạm Duy (con trai út của Phạm Duy
Tốn) chúng ta được tiếp xúc với ấn bản in lần thứ ba, năm 1924 do hiệu Ích Ký,
58 Hàng Giấy Hà Nội ấn hành[2]. Mặc
dù, ở thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa tìm thấy ấn bản của lần thứ nhất nhưng
căn cứ vào ghi chú của chính Phạm Duy Tốn trong lời Tựa ở phần đầu sách: “Nhâm Tý, Mạnh đông” thì có thể đoán định một
cách khá chắc chắn vào thời điểm ra đời của cuốn sách: giữa mùa đông năm 1912.
Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015
Văn thơ Phan Bội Châu - ĐẶNG THAI MAI
Văn thơ Phan Bội Châu của Đặng Thai Mai là một công trình kinh điển về tác gia văn học sử nói chung cũng như về tác gia Phan Bội Châu nói riêng. Văn bản này xuất bản đã lâu, khó tìm để đọc. Tôi post ở đây một số luận điểm chính để sinh viên có thể tham khảo. Chữ số Ả rập trong ngoặc vuông là số trang.
VĂN THƠ PHAN BỘI
CHÂU
ĐẶNG THAI MAI
(Nhà xb Văn hóa, 1960, in lần thứ hai)
I. Sự nghiệp văn chương của Phan Sào Nam là một bộ phận
trong công tác cách mạng của nhà chí sĩ
“Thi cử chỉ là một
phương tiện để cho ‘thành danh’ và có thể ‘ăn nói với đời’. Sách đầu giường của
nhà Nho, hồi này, không phải là văn chương cử tử nữa. Phan Bội Châu đọc binh thư của Tôn, Ngô, của
Gia Cát; đọc sách chính trị trong các tập ‘tân thư’ của thời đại: Khang
Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục v.v...” [11]
- “Phan Bội Châu với một
số đồng chí bắt đầu xây móng cho hội ‘Duy Tân’.
Trong lịch sử chống thực
dân Pháp của nước ta, đây là lần đầu tiên một cuộc vận động cách mạng có một tổ
chức tương đối cẩn mật, một chương trình cụ thể.
Lập trường chính trị cố
nhiên còn hết sức mập mờ về vấn đề cơ sở giai cấp. Nhưng nhà lãnh tụ Hội Duy
Tân quả tình không phải là người còn quyến luyến với chủ nghĩa bảo hoàng, với
chủ nghĩa quân chủ theo lập trường các nhà cần vương lớp trước. [12]
- “trong chính kiến của
Phan Bội Châu, con bài Cường Để không phải là một cứu cánh; nó chỉ là một
phương tiện” [13]
- “Dân không còn nữa,
mà chủ cái gì?” (Tham khảo: Phan Bội Châu
và Phan Chu Trinh – Tôn Quang Phiệt – NXB Văn Sử Địa, 1957. [14]
- “Phan Bội Châu từ
ngày mới bắt tay vào công tác cách mạng đã có một chủ trương rõ rệt: tập hợp mọi
lực lượng, liên hiệp mọi tầng lớp nhân dân để chống Pháp. Đó là một chủ trương,
tuy Sào Nam chưa hề tuyên bố rõ rệt về lập trường chính trị dân chủ”. [21] Lưu
ý là: “tư tưởng Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, ở Trung Quốc, chỉ là tư tưởng bảo
hoàng” [21]
- “từ ngày lập Hội Việt
Nam Quang phục trở về sau thì Phan Bội Châu đi hẳn theo chủ nghĩa dân chủ tư sản.
Và từ trước đến sau, Phan Bội Châu vẫn chỉ có một chủ trương: là đánh thực dân
để cứu nước. Lập trường dân chủ của Phan có phần mập mờ” [22]
- “Trong thái độ và hoạt
động chính trị của họ Phan, cố nhiên, cũng có chỗ đáng phê bình. Có một thời
gian, Phan Bội Châu đã viết Pháp Việt đề
huề luận. Đó là một vết tư tưởng đáng tiếc trong tư tưởng chính trị của một
người lâu nay vẫn chủ trương chống Pháp triệt để” [22]
- “trong sự nghiệp
Phan Bội Châu, văn chương cũng là một hoạt động gắn chặt với đời sống chính trị
của nhà ái quốc. Sự nghiệp văn chương của Phan Bội Châu chính là một bộ phận
trong công tác cách mạng của nhà chí sĩ” [25]
Quan niệm về tả thực trong tiểu thuyết giai đoạn giao thời
Trong cấu trúc
thể loại của văn học hiện đại, tiểu thuyết có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Thật khó hình dung về một nền văn học hiện đại mà ở đó thiếu vắng những thành
tựu đỉnh cao của tiểu thuyết. Ba mươi năm đầu thế kỷ, văn học có những bước
chuyển mình quan trọng để tiến vào lộ trình hiện đại hóa. Một trong những dấu
hiệu của sự chuyển mình này là sự quan tâm đặc biệt đến tiểu thuyết.
Thời trung đại, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tiểu thuyết chẳng những
không được đề cao mà trong thực tế sáng tác cũng phát triển một cách hết sức
chậm chạp, không có được những thành tựu thật sự nổi bật. Cuốn sách Từ trong di sản (xuất bản năm 1981) đã
cố gắng tập hợp những ý kiến về văn học của các bậc thức giả Việt Nam từ thế kỷ
X đến thế kỷ XX nhưng ta không tìm thấy trong đó một lời bàn quan trọng nào về
tiểu thuyết. Có thể nói, tiểu thuyết trung đại Việt Nam không có nhiều thành
tựu như thơ ca và cũng đồng thời thiếu vắng một Kim Thánh Thán của mình.
Giai đoạn giao thời cho ta chứng kiến những biến động quan trọng trong
quan niệm về tiểu thuyết. Bên cạnh những quan niệm cũ xuất hiện những quan niệm
mới đến từ Tân thư và sau này đến từ văn học Pháp. Dù không liền mạch
nhưng về cơ bản thời kỳ này một mặt bằng mới trong quan niệm đã được xác lập.
Có một thực tế là trong khi những sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam
thời kỳ này còn khá sơ giản và non nớt thì quan niệm về tiểu thuyết lại đã sớm
có những kết tinh ở một trình độ khá cao, vượt xa thực tế sáng tác đương thời.
Cho đến nay, dù đã có những công trình rất đáng ghi nhận trong việc sưu tầm,
miêu tả song có lẽ chúng ta vẫn chưa có được một sự kiểm kê và đánh giá thực sự
thỏa đáng về những thành tựu phê bình và lý luận tiểu thuyết ba mươi năm đầu
thế kỷ.[1]
Bản viết này chỉ đề cập đến quan niệm về tả thực trong tiểu thuyết thời kỳ này.
Một số vấn đề lý thuyết tiếp nhận từ hoạt động dịch thuật đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam từng bước
ra nhập nền văn học thế giới. Một trong những nguyên nhân chính đưa lại sự thay
đổi này là ảnh hưởng của văn học phương Tây, trong đó văn học Pháp giữ vai trò
chủ đạo. Chính vì thế khi tiến hành so sánh, một trong những hướng nghiên cứu
chủ yếu sẽ là đi tìm cơ chế cho hoạt động lựa chọn để tiếp nhận của văn học
Việt Nam trước ảnh hưởng của văn học Pháp. Việc tìm hiểu cơ chế tiếp nhận
này sẽ giúp chúng ta chẳng những xác định được những đặc điểm, thuộc tính nào
của văn học Pháp đã được tiếp nhận mà còn lý giải được nguyên nhân cho sự có
mặt của chúng ở Việt Nam. Trước khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra
đời, cơ chế chính để tiếp nhận văn học Pháp chính là dịch thuật. Bài viết này
hướng tới hai mục tiêu:
-Thứ nhất, phác họa đặc điểm và sơ
bộ đánh giá những ảnh hưởng của văn học phương Tây (chủ yếu là của văn học
Pháp) đối với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam.
-Thứ hai, qua đó rút ra một số thu hoạch xung quanh
vấn đề chủ thể tiếp nhận trong so sánh văn học.
CẢM QUAN HIỆN TẠI VÀ MÔ HÌNH KHÔNG – THỜI GIAN TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU GIAO THỜI
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)